chuyển đổi số

Ra mắt hợp phần “Chuyển đổi số bao trùm cho Doanh Nghiệp Đầu Chuỗi (IDAP-Lead Enterprise)” Trong Khuôn Khổ Dự Án Tăng cường Hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm Tại Sơn La

Sơn La, tháng 01 năm 2026 – Dự án IDAP (Inclusive Digital Acceleration Program) chính thức ra mắt hợp phần “Chuyển đổi số bao trùm cho Doanh nghiệp đầu chuỗi (Lead Enterprise)”, nhằm lựa chọn và đồng hành cùng các doanh nghiệp và hợp tác xã giữ vai trò trung tâm trong chuỗi giá trị nông nghiệp và du lịch tại tỉnh Sơn La, qua đó thúc đẩy chuyển đổi số theo hướng thực chất, tạo tác động lan tỏa và phát triển bền vững.

Dự án IDAP – Tăng cường hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm cho doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và du lịch tại Lào Cai và Sơn La – là dự án được tài trợ bởi GREAT, một sáng kiến do Chính phủ Australia tài trợ và được quản lý bởi Cowater International, với Công ty Cổ phần KisStartup là đối tác thực hiện chính trong giai đoạn 2024–2027.

Đây không chỉ là một chương trình hỗ trợ kỹ thuật. IDAP tìm kiếm những doanh nghiệp dám đi trước, sẵn sàng thử nghiệm, đồng hành và kiến tạo các mô hình chuyển đổi số thực chất – đo được – lan tỏa được, từ đó tạo ra tác động dài hạn cho cả chuỗi giá trị và cộng đồng địa phương.

Trong khuôn khổ IDAP, Doanh nghiệp đầu chuỗi được hiểu là doanh nghiệp hoặc hợp tác xã đóng vai trò điều phối và dẫn dắt trong chuỗi giá trị, có sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể, đồng thời liên kết với nhiều tác nhân như hộ sản xuất, tổ nhóm, hợp tác xã vệ tinh, đơn vị chế biến – phân phối và thị trường đầu ra. Đây là nhóm đối tác thí điểm trọng tâm, nơi các mô hình chuyển đổi số, đổi mới công nghệ và cải tiến mô hình kinh doanh được áp dụng trực tiếp, đo lường hiệu quả và từng bước lan tỏa ra toàn chuỗi.

Thông qua hợp phần này, IDAP cùng KisStartup không áp đặt một mô hình sẵn có, mà đồng hành cùng doanh nghiệp để:

  • Tăng doanh thu cho doanh nghiệp đầu chuỗi thông qua các giải pháp chuyển đổi số phù hợp với bối cảnh địa phương.
  • Nâng cao hiệu quả vận hành, giảm chi phí bằng việc số hóa quản trị, dữ liệu và quy trình chuỗi.
  • Thử nghiệm các mô hình chuyển đổi số bao trùm, gắn trực tiếp với chuỗi giá trị thực tế – nơi doanh nghiệp, hộ dân và đối tác cùng tham gia như: số hóa quản trị chuỗi và dữ liệu vận hành theo nhu cầu thực tế,nâng cao hiệu quả, tính minh bạch và khả năng truy xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm – dịch vụ gắn với giá trị địa phương,
  • Giải quyết các “bài toán thật” trong vận hành, quản trị và tiếp cận thị trường thông qua chuyển đổi số, thay vì những giải pháp hình thức.
  • Thiết kế những mô hình chuyển đổi số có thể đứng vững sau dự án, tạo ra các thực hành tốt có khả năng lan tỏa, nhân rộng cho cộng đồng doanh nghiệp địa phương.

Các doanh nghiệp tham gia không chỉ là người thụ hưởng, mà là đồng tác giả của mô hình, cùng dự án thử nghiệm, điều chỉnh và hoàn thiện những cách làm mới – làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của hệ sinh thái nông nghiệp và du lịch Sơn La trong dài hạn.

IDAP ưu tiên lựa chọn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và du lịch tại Sơn La, có mạng lưới liên kết với nhiều hộ dân, tổ nhóm hoặc đối tác trong chuỗi giá trị; có nhu cầu đổi mới rõ ràngcam kết đồng hành – đồng đầu tư – chia sẻ dữ liệu, và sẵn sàng tham gia quá trình thí điểm một cách nghiêm túc. Dự án đặc biệt khuyến khích các doanh nghiệp có liên kết với hộ dân tộc thiểu số, thúc đẩy vai trò của phụ nữ và người địa phương trong chuỗi giá trị.

Thời gian mở đơn đăng ký tham gia hợp phần Doanh nghiệp đầu chuỗi: từ nay đến 20/01/2026
Link đăng kýhttps://forms.gle/zayrH3GAuFL7Pz3w7

Tác giả: 
KisStartup

Chuyển đổi kép và "giá trị gia tăng nhỏ" bị bỏ quên của SME

Nguyễn Đặng Tuấn Minh

Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh với SME không diễn ra dưới dạng các “siêu dự án”, mà chủ yếu thông qua những bước đi rất nhỏ, phân tán, thiết thực: một phần mềm kế toán, một hệ thống quản lý kho, thanh toán số…Chính những “giá trị gia tăng nhỏ” này quyết định khả năng sống còn của SME nhưng cũng đang bị thị trường và chính sách lãng quên.

Trong khuôn khổ dự án IDAP, các doanh nghiệp Lào Cai tới thăm làng lụa đũi Nam Cao, sử dụng mạng xã hội để khôi phục lại những kĩ nghệ đã bị mai một. Ảnh: IDAP.

Giữa làn sóng “chuyển đổi số” và “chuyển đổi xanh” với các khẩu hiệu lớn lao như “cách mạng công nghiệp 4.0, trí tuệ nhân tạo, net-zero, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn”… các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) lại loay hoay với một thực tế khác. Họ xoay sở tiền lương, lo đơn hàng, tiết kiệm chi phí sản xuất … chỉ đủ khả năng chuyển đổi ở quy mô rất nhỏ để thích ứng.

Thực tế, phần lớn SME không thể tiếp cận được các công nghệ đột phá, nên bắt đầu bằng các giải pháp rẻ – nhỏ – nhanh: phần mềm kế toán, hệ thống quản lý kho và bán hàng, nền tảng thương mại điện tử, dịch vụ đám mây, công cụ cộng tác, hóa đơn điện tử, thanh toán số… Gần đây hơn, họ bắt đầu chạm đến tầng dữ liệu và AI, nhưng vẫn ở mức ứng dụng thực dụng như chatbot chăm sóc khách hàng, gợi ý nội dung marketing, dự báo nhu cầu đơn giản, phân tích dòng tiền.

Cùng lúc đó, một làn sóng chuyển đổi xanh ập đến. SME buộc phải nghĩ tới năng lượng, phát thải, chất thải, truy xuất vòng đời sản phẩm, tiêu chuẩn môi trường của chuỗi cung ứng mà họ tham gia. Cũng như chuyển đổi số, SME không cần những dự án “siêu xanh” to lớn mà là các giải pháp nhỏ để đo lường, tối ưu và tiết kiệm, từ giám sát tiêu thụ điện, hỗ trợ ghi nhận dữ liệu phát thải, hay điều chỉnh quy trình giúp giảm lãng phí nguyên liệu.

Khi hai làn sóng cùng ập tới, nhu cầu chuyển đổi tạo “giá trị gia tăng nhỏ” ở các SME hiện rõ. Nhưng liệu chính sách và thị trường có tạo điều kiện cho SME vừa tiết kiệm chi phí, vừa chuyển đổi để không bị loại khỏi chuỗi cung ứng vì thiếu dữ liệu, thiếu minh bạch, thiếu chuẩn xanh?

Hiện trạng chuyển đổi kép: chính sách mở đường, SME vẫn mắc kẹt

Ở tầm toàn cầu, các khảo sát của OECD, WEF, APEC đều cho thấy SME đã tăng tốc số hóa sau COVID-19. Nhiều doanh nghiệp đã quen với việc làm việc từ xa, bán hàng online, dùng cloud và công cụ cộng tác. Một tỷ lệ đáng kể lên kế hoạch tăng chi cho bảo mật, hạ tầng đám mây, dữ liệu và thậm chí AI trong 1–2 năm tới. Tuy nhiên, không ít SME vẫn mắc kẹt ở tầng “số hóa cơ bản”: có tài khoản mạng xã hội, có phần mềm kế toán nào đó, có dùng nền tảng hội họp trực tuyến, nhưng thiếu chiến lược dữ liệu, thiếu năng lực phân tích dữ liệu để ra quyết định, chưa thể tự động hóa sâu hay AI theo cách có hệ thống. Khoảng 40% SME ở châu Âu tự nhận là “chưa sẵn sàng” cho chặng đường số hóa phía trước – một tín hiệu cảnh báo rõ ràng.

Với chuyển đổi xanh, tình hình còn phức tạp hơn. Nhiều nghiên cứu ở châu Âu chỉ ra SME chiếm tới khoảng 60% phát thải của khu vực doanh nghiệp, nhưng lại ở vùng trũng năng lực: thiếu vốn, thiếu kiến thức, thiếu công cụ để đo lường và quản trị phát thải. Dù phải chịu sức ép từ mục tiêu net-zero, tiêu chuẩn chuỗi cung ứng, luật môi trường mới – nhưng phần lớn SME mới chỉ thay đổi nhận thức chứ chưa thể triển khai đều và sâu.

Không chỉ gặp vấn đề tương tự, SME Việt Nam còn vấp phải những khó khăn riêng. 

Về phía chính sách, chính phủ đã dùng ba “đòn bẩy” quan trọng để tạo lực cho thị trường công nghệ B2B phục vụ SME. Thứ nhất là các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số, với các nền tảng “Make in Vietnam” được đóng gói cho SME, hàng trăm nghìn lượt doanh nghiệp tiếp cận tài liệu, hàng chục nghìn đơn vị được đào tạo và tư vấn. Thứ hai là khung pháp lý và ưu đãi mới cho công nghiệp số, đặt ra các mục tiêu tham vọng về số lượng doanh nghiệp công nghệ số, tỉ trọng kinh tế số, cơ chế hỗ trợ SME mua và thử nghiệm công nghệ. Thứ ba là tài chính số, với các mô hình cho vay dựa trên dữ liệu vận hành, tích hợp dữ liệu hóa đơn, dòng tiền, hàng tồn kho để chấm điểm tín dụng nhanh hơn, ít phụ thuộc vào tài sản thế chấp. Song song, các chương trình, nghị quyết về chuyển đổi xanh, tăng trưởng bền vững, net-zero và kinh tế tuần hoàn đang dần đi vào hệ thống chính sách, từ cấp trung ương đến địa phương. SME trong các ngành xuất khẩu, nông nghiệp, chế biến, dệt may, da giày… bắt đầu cảm nhận sức ép từ yêu cầu truy xuất, tiêu chuẩn môi trường, báo cáo ESG của khách hàng quốc tế.

Những khoản đầu tư vài trăm triệu đến vài tỷ cho chuyển đổi quá nhỏ để ngân hàng hay quỹ đầu tư coi là ‘dự án công nghệ lớn’ nên đầu tư, nhưng lại quá rủi ro đối với dòng tiền của doanh nghiệp nhỏ.

Dù vậy, phần đông SME Việt Nam vẫn chỉ mới chạm vào bề mặt của chuyển đổi số và xanh. Trên 60% doanh nghiệp gặp khó về chi phí đầu tư công nghệ, hơn một nửa vướng thói quen vận hành cũ và thiếu nhân lực nội bộ. Về vốn, tỷ lệ SME tiếp cận được tín dụng ngân hàng thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn; khoảng trống tín dụng cho SME ước tính hàng chục tỷ đô la, trong đó những dự án nâng cấp công nghệ nhỏ – phân tán – thường bị hòa lẫn trong nhu cầu vốn lưu động. Chuyển đổi xanh mới dừng ở nhận thức và một số bước thử nghiệm ở những doanh nghiệp nhạy bén hơn, còn lại đa số chưa chuyển đổi, thậm chí chưa có ngôn ngữ “chung” để đo lường phát thải, năng lượng, chất thải.

Ba khoảng trống khóa chặt chuyển đổi quy mô nhỏ

Trước áp lực chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, phần lớn SME rất khó bắt đầu bằng các dự án nhỏ vừa sức, do ba khoảng trống. 

Thứ nhất là khoảng trống vốn cho các dự án công nghệ – xanh “giá trị gia tăng nhỏ”. Những khoản đầu tư vài trăm triệu đến vài tỷ cho một hệ thống quản trị, dây chuyền bán tự động, giải pháp đo lường năng lượng, nền tảng truy xuất nguồn gốc… quá nhỏ để ngân hàng hay quỹ đầu tư coi là “dự án công nghệ lớn”, nhưng lại quá rủi ro đối với dòng tiền của doanh nghiệp nhỏ. Thị trường vốn hiện có chủ yếu được thiết kế cho khoản vay vận hành ngắn hạn hoặc dự án đầu tư quy mô lớn, gần như bỏ trống phân khúc sản phẩm chuyên biệt cho các gói chuyển đổi số, chuyển đổi xanh nhỏ, trả dần theo dòng tiền và giá trị tạo ra.

Thứ hai là khoảng trống năng lực hấp thụ và năng lực “dịch” nhu cầu thành dự án. Phần lớn SME không có người phụ trách chuyển đổi số, không có chuyên gia môi trường, không có bộ phận dữ liệu. Họ cảm nhận sức ép, thấy xu hướng, đọc đâu đó về net-zero, AI, ESG, nhưng chưa đủ năng lực đưa những áp lực đó thành danh sách đầu việc cụ thể rõ ràng, thứ tự ưu tiên và lộ trình khả thi. Trong khi đó, nhà cung cấp công nghệ và dịch vụ xanh cũng hiếm khi hiểu đủ sâu bối cảnh vận hành của từng ngành nhỏ, từng kiểu doanh nghiệp, từng vùng miền. Sự lệch pha này khiến nhiều cơ hội hợp tác không bao giờ thành hình.

Thứ ba là khoảng trống trong thiết kế sản phẩm công nghệ B2B và dịch vụ trung gian. Phần lớn giải pháp vẫn được đóng gói theo lối “bán phần mềm” hoặc “bán thiết bị”, ít đi kèm mô hình tài chính, ít gắn với kết quả vận hành thực tế. Vai trò của các tổ chức trung gian – những đơn vị có thể đánh giá mức trưởng thành số và xanh của doanh nghiệp, thiết kế lộ trình, chia nhỏ thành micro-project, huy động bên cung và bên vốn cùng tham gia – vẫn chưa được nhìn nhận như một cấu phần thiết yếu của thị trường.

Chính ba khoảng trống này khiến khu vực SME, dù có nhu cầu chuyển giao công nghệ rất lớn cho chuyển đổi kép, vẫn chưa được phục vụ đúng và đủ.

Cơ hội hình thành thị trường “chuyển đổi kép” quy mô nhỏ

Cũng từ những khoảng trống đó, cơ hội mới lộ rõ.

Ở tầng doanh nghiệp nhỏ, “chuyển đổi kép” – số và xanh – không phải là hai câu chuyện tách rời. Công nghệ số giúp đo lường và tối ưu tài nguyên, năng lượng, phát thải; chuyển đổi xanh lại tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư nghiêm túc hơn vào hệ thống dữ liệu và quản trị. Nhiều tổ chức quốc tế đã gọi đây là cặp song sinh của SME: số để nhìn rõ, xanh để đi xa.

Một doanh nghiệp chè tại Sơn La đang số hoá sản phẩm của mình để quảng bá thương hiệu, trong khuôn khổ dự án IDAP. Ảnh: IDAP.

Với các doanh nghiệp công nghệ, các startup B2B, đây là thị trường cho những giải pháp nhỏ nhưng thông minh: một hệ thống quản trị tích hợp theo dõi cả vận hành và chỉ số môi trường; một nền tảng quản lý kho – truy xuất nguồn gốc với dữ liệu đủ để phục vụ cả yêu cầu khách hàng lẫn ngân hàng; một công cụ AI giúp doanh nghiệp nhỏ hiểu và tối ưu chi phí năng lượng, đề xuất kịch bản tiết kiệm; một bảng điều khiển (dashboard) đơn giản nhưng đủ để chủ doanh nghiệp nhìn được doanh thu, chi phí, tồn kho, tiêu thụ điện – nước – nguyên liệu trên cùng một màn hình. Nếu thiết kế đúng, mỗi giải pháp như vậy có thể tạo ra 4–15% tiết kiệm chi phí trong một số ngành, đồng thời giảm rủi ro vận hành và mở cửa thị trường mới.

Với các tổ chức tài chính và nền tảng tài chính số, “chuyển đổi kép” mở ra khả năng gắn công nghệ, dữ liệu, xanh với sản phẩm vốn. Sử dụng dữ liệu từ hệ thống kế toán, hóa đơn điện tử, tiêu thụ năng lượng, truy xuất nguồn gốc, ngân hàng có thể chấm điểm tín dụng chính xác hơn và thiết kế các gói vay chuyên biệt cho đầu tư công nghệ – xanh. Khi dòng tiền trả nợ được gắn trực tiếp với mức tiết kiệm chi phí hay giá trị gia tăng mà công nghệ mang lại, mô hình “cùng chia sẻ rủi ro – cùng hưởng lợi” mới có thể vận hành được với SME.

Với các đơn vị trung gian – vườn ươm, trung tâm đổi mới sáng tạo, tổ chức hỗ trợ SME, hiệp hội ngành – cơ hội là trở thành kiến trúc sư của những lộ trình chuyển đổi kép vừa sức với doanh nghiệp nhỏ. Đó là công việc rất cụ thể: phân loại doanh nghiệp theo mức trưởng thành số và xanh, xác định “bước nhỏ tiếp theo” hợp lý nhất, kết nối với nhà cung cấp công nghệ phù hợp, đồng thiết kế mô hình tài chính với ngân hàng hoặc quỹ, theo dõi và đo lường tác động để các bên tiếp tục điều chỉnh.


Nếu chúng ta thực sự coi SME – với những nhu cầu chuyển giao công nghệ giá trị gia tăng nhỏ – là trung tâm của chiến lược số và xanh, thì bài toán không còn là ‘làm vài dự án mẫu thật lớn’, mà là: làm sao để hàng trăm nghìn bước nhỏ diễn ra liên tục, an toàn, có đo lường, có học hỏi lẫn nhau.

Nếu làm được, chúng ta không chỉ giải quyết bài toán riêng lẻ của từng doanh nghiệp, mà dần hình thành một thị trường mới: thị trường chuyển giao công nghệ giá trị gia tăng nhỏ cho SME trong bối cảnh chuyển đổi kép. Đây sẽ là tầng nền thực sự của một nền kinh tế đổi mới sáng tạo – xanh – số, chứ không chỉ là vài câu chuyện thành công mang tính biểu tượng.

Rủi ro bất bình đẳng nếu thiết kế sai 

Tuy nhiên, cơ hội càng lớn thì thách thức càng rõ. Thách thức lớn nhất là tốc độ thay đổi. Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, dữ liệu, AI, tuân thủ… đang diễn ra đồng thời, chứ không lần lượt. Một doanh nghiệp nhỏ trong chuỗi cung ứng toàn cầu có thể chỉ trong vài năm đã phải đối mặt với yêu cầu: dùng hóa đơn điện tử, báo cáo dữ liệu, tham gia nền tảng đặt hàng, cung cấp truy xuất, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, thậm chí chứng minh mình có kế hoạch giảm phát thải. Với nguồn lực hạn chế, rất nhiều doanh nghiệp sẽ cảm thấy bị “dồn vào chân tường”.

Thách thức thứ hai là bất bình đẳng năng lực. Nhóm SME đã quen với công cụ số, có đội ngũ trẻ, có ít nhất một người “nói được ngôn ngữ công nghệ”, sẽ có lợi thế lớn trong cuộc chuyển đổi kép. Ngược lại, những doanh nghiệp thiếu kỹ năng số, thiếu vốn, thiếu người trẻ, thiếu ngoại ngữ sẽ phải nỗ lực gấp nhiều lần để không bị tụt lại. Khoảng cách về năng suất, chi phí, chất lượng, tốc độ ra quyết định và khả năng đáp ứng yêu cầu chuỗi cung ứng giữa hai nhóm sẽ ngày càng rộng nếu không có cơ chế hỗ trợ phù hợp.

Thách thức thứ ba là nguy cơ tạo ra một nền kinh tế bất bình đẳng giữa các đối tượng khác nhau. Ở tầng trên là những doanh nghiệp (dù không lớn) đã số hóa tương đối tốt, đang tiến dần tới quản trị dữ liệu, tự động hóa, xanh hơn, minh bạch hơn, dễ thu hút vốn hơn. Ở tầng dưới là một biển doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh chỉ dừng ở việc dùng Zalo, Facebook, Excel, sổ ghi tay; họ vừa phải vật lộn với chi phí hằng ngày, vừa phải làm quen với yêu cầu tuân thủ mới, mà không có nhiều người dẫn lối. Nếu các chính sách, chương trình hỗ trợ và mô hình B2B mới chỉ tập trung ở tầng trên, chúng ta có thể có một “câu chuyện thành công” đẹp, nhưng không có một nền tảng vững cho cả hệ thống.

Cuối cùng, là thách thức thiết kế chính sách và thị trường theo logic của những giá trị gia tăng nhỏ. Hệ thống hỗ trợ hiện nay – từ quỹ khoa học công nghệ, quỹ đổi mới, chương trình chuyển đổi số, đến ngân hàng và quỹ đầu tư – vốn quen với những dự án “đẹp hồ sơ”, chỉ số lớn, câu chuyện hấp dẫn. Trong khi đó, phần việc quan trọng nhất của chuyển đổi kép cho SME lại nằm ở chỗ: sửa một quy trình, số hóa một khâu, thử một phần mềm nhỏ, thay một thiết bị, lắp một cảm biến. Những thứ đó không hào nhoáng, nhưng khi tích lũy đủ, chúng thay đổi cả năng suất quốc gia.

Nếu chúng ta thực sự coi SME – với những nhu cầu chuyển giao công nghệ giá trị gia tăng nhỏ – là trung tâm của chiến lược số và xanh, thì bài toán không còn là “làm vài dự án mẫu thật lớn”, mà là: làm sao để hàng trăm nghìn bước nhỏ diễn ra liên tục, an toàn, có đo lường, có học hỏi lẫn nhau. Và đó là câu chuyện của thiết kế hệ sinh thái – nơi công nghệ, vốn, năng lực trung gian và chính sách phải làm việc với nhau, thay vì hoạt động song song như hiện nay.

Nguồn: Tia Sáng 

Tài liệu tham khảo 

APEC. (2024). APEC SME Ministerial Meeting Report 2024. APEC Secretariat.

Cusmano, L. (2021). SME digital and green transformation: OECD insights. OECD Berlin Centre.

McKinsey & Company. (2025). The state of AI in 2025. McKinsey Global Institute.

OECD. (2021). The digital transformation of SMEs. OECD Publishing.

OECD. (2024). Digital for SMEs (D4SME) Global Initiative Survey. OECD Publishing.

OECD. (2025). Generative AI and the SME workforce. OECD Publishing.

OECD. (2025). Inclusive green and digital transformation for SMEs: Policy framework. OECD Publishing.

S&P Global Market Intelligence. (2024). SME IT spending strategies for 2025 driven by AI adoption.

UNCTAD. (2025a). Digital economy and SME adoption patterns. UNCTAD Digital Economy Report Series.

UNCTAD. (2025b). SMEs in the net-zero transition. UNCTAD Green Industrialization Series.

World Economic Forum. (2024). Digital Transformation for SMEs 2024: Global readiness and barriers. WEF Publishing.

ZunoCarbon. (2024). SMEs and the Net-Zero Transition. ZunoCarbon Research.

Allwork. (2025). European SMEs risk falling behind as AI adoption outpaces digital fundamentals. Allwork Media.

Enterprise Development Centre. (2025). Renewed SME Agenda in the Context of Green and Just Transition.

World Bank. (2023). Challenges with digital technology adoption by SMEs: A case analysis. World Bank Blogs.

Engma. (2024). Thực trạng chuyển đổi số của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. Engma Research.

IFC. (2025). Digital finance and SME access to credit in Vietnam. International Finance Corporation.

Ministry of Information and Communications. (2024). Vietnam to be one of the world’s leading countries in digital–green transition by 2035.

Ministry of Planning and Investment. (2024). Digital transformation in businesses for sustainable development. MPI.

VietnamPlus. (2024). Government action program to promote science, technology and national digital transformation.

Vietnam News. (2025). Digital loans open new doors for SMEs.

Vietnam News. (2025). Vietnam’s SMEs risk falling behind in digital transformation race.

European Parliament. (2024). SMEs and EU environmental compliance. Policy Department for Economic, Scientific and Quality of Life Policies.

OECD. (2023). SME and Entrepreneurship Outlook 2023. OECD Publishing.

WTO Center Vietnam. (2024). Increasing technology content in Vietnamese exports. WTO Center.

Vietnam Tourism Advisory Board. (2024). Sustainability trends in Vietnamese tourism SMEs. TAB Publications.

Vietnam Textile & Apparel Association (VITAS). (2024). Green supply chain readiness among Vietnamese textile SMEs. VITAS Research.

 

Tác giả: 
Nguyễn Đặng Tuấn Minh

Chuyển đổi số – Gìn giữ và làm giàu giá trị văn hóa bản địa trong kỷ nguyên số


Trong nhiều năm qua, khi nói về chuyển đổi số, người ta thường nhấn mạnh đến năng suất, hiệu quả và kinh tế. Nhưng trên hành trình thực tiễn của Dự án IDAP – Chuyển đổi số Bao trùm, KisStartup nhìn thấy một khía cạnh sâu sắc hơn: chuyển đổi số không chỉ thay đổi kinh tế, mà còn gìn giữ và làm giàu văn hóa – chính là linh hồn của cộng đồng.

Ở những bản làng vùng cao Lào Cai, Sơn La, công nghệ không đến như một làn sóng xa lạ, mà dần trở thành cầu nối để bản sắc địa phương bước ra thế giới, giúp di sản văn hóa sống lại trong hình thức mới – số hóa, lan tỏa, và được trao truyền qua thế hệ trẻ.

Khi công nghệ trở thành người kể chuyện của bản sắc

Từ những chương trình huấn luyện của IDAP, nhiều nghệ nhân, thầy cô và thanh niên dân tộc thiểu số đã bắt đầu học cách ghi lại, lưu trữ và giới thiệu di sản bằng công cụ số. Những lớp học nhỏ về dựng video, chụp ảnh sản phẩm, thiết kế nội dung dần trở thành nơi “kể chuyện văn hóa” theo cách của người bản địa.
Tại Sơn La, Giảng viên Lò Thị Ngọc Diệp cùng nhóm sinh viên Đại học Tây Bắc phối hợp để số hóa các đặc trưng văn hóa Thái, đưa các buổi biểu diễn, clip hướng dẫn lên mạng xã hội. 

Những nỗ lực như thế đang biến youtube thành trường học mở, nơi giá trị văn hóa được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ sáng tạo – lớp học nhạc cụ, tour trải nghiệm văn hóa, lớp dạy thêu trang phục dân tộc, hay workshop làm đồ thủ công truyền thống.

Ở Lào Cai, TS. Đặng Thị Oanh cùng các giảng viên, sinh viên sưu tầm và phát triển các đặc trưng văn hóa của các nhóm dân tộc, đặc biệt người Dao, phát triển những hiểu biết của cộng đồng về tín ngưỡng của người Dao. Những nỗ lực của chị Vàng Thị Mai thu thập các bài hát then giai điệu cổ của người Tày ở Bản Liền được nhân lên cùng sự cổ vũ của cộng đồng. Lớp học nhỏ của chị được duy trì để phát triển khi mọi người đến học và được truyền dạy và được quảng bá trên nền tảng youtube, facebook. 

Công nghệ số – người bạn đồng hành của di sản

Trên thế giới, công nghệ đang trở thành “bộ nhớ mở rộng” của nhân loại, giúp lưu giữ và phục dựng những gì tưởng như đã mai một. Ở Guatemala, ứng dụng Duolingo thêm ngôn ngữ K’iche’ của người Maya, góp phần hồi sinh tiếng nói từng bên bờ quên lãng. Tại Bolivia, ứng dụng OEI App lưu giữ năm ngôn ngữ bản địa với hệ thống phát âm và từ điển điện tử, giúp học sinh vùng núi dễ dàng học lại tiếng mẹ đẻ. Ở Úc, Canada, New Zealand, công nghệ VR360, 3D scanning và thực tế ảo được dùng để phục dựng lễ hội, nhà sàn, đồ gốm và các điệu múa cổ – giúp công chúng toàn cầu được “dạo bước” trong không gian văn hóa bản địa dù ở cách nửa vòng trái đất.

Một số dự án còn thử nghiệm blockchain để bảo vệ bản quyền tri thức cộng đồng – từ mẫu hoa văn, công thức nhuộm chàm, đến bài thuốc dân gian – đảm bảo rằng tri thức truyền thống được chia sẻ công bằng và không bị chiếm dụng thương mại.

Những công nghệ như AI, thực tế ảo, lưu trữ đám mây, ngôn ngữ học số, và blockchain đang giúp di sản được tái sinh dưới hình thức mới: sống động, tiếp cận được và có thể tương tác. Nhưng trên hết, chúng chỉ thực sự có ý nghĩa khi cộng đồng bản địa là người kể chuyện chính.

Bài học từ IDAP: Khi cộng đồng làm chủ công nghệ

Kinh nghiệm từ các chương trình ở Lào Cai và Sơn La cho thấy, khi chuyển đổi số bắt đầu từ văn hóa, nó tạo ra sự gắn kết bền vững hơn bất kỳ dự án kỹ thuật nào.

Bản Liền, người Tày không chỉ số hóa quy trình sản xuất trà cổ thụ mà còn kể lại lịch sử cây trà qua video ngắn, chia sẻ phong tục hái lá, chế biến và mời trà trong dịp lễ tết. Trang fanpage “Hương trà Bản Liền” không chỉ bán hàng mà còn trở thành kênh giáo dục văn hóa sống động.

Tại Bản Lùn, cộng đồng người Thái tổ chức lớp học dân ca kết hợp livestream. Trẻ em không chỉ học hát, mà học cách quay video, dựng clip, phụ trách phần mô tả và phụ đề. Cả bản cùng tham gia, mỗi người một phần việc – và kết quả là một kho dữ liệu số về âm nhạc dân tộc được chính cộng đồng tạo ra.

IDAP gọi cách làm này là “chuyển đổi số cộng đồng dẫn dắt” – công nghệ được “nội địa hóa” bởi người dân, chứ không áp đặt từ bên ngoài. Chính điều đó khiến văn hóa sống và phát triển tự nhiên, đồng thời tạo ra giá trị kinh tế mới mà không làm mất đi bản sắc.

Gìn giữ để phát triển – phát triển để lan tỏa

Công nghệ có thể giúp bảo tồn, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là đưa văn hóa trở lại đời sống hiện đại. Những lớp học nhạc cụ, tour trải nghiệm, video kể chuyện nghề hay sản phẩm lưu niệm đều là cách chuyển hóa di sản thành giá trị thực.

Ở đó, mỗi bài hát, điệu múa, họa tiết thổ cẩm không còn nằm trong tủ kính hay sách nghiên cứu, mà được số hóa, chia sẻ, và trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo cho thế hệ mới. Khi một em học sinh ở Sơn La có thể dạy đàn tính qua TikTok, hay một nghệ nhân ở Bản Khảo mở lớp nhuộm chàm online, thì văn hóa đã thật sự bước vào kỷ nguyên số theo cách đậm chất con người Việt Nam – mộc mạc, kiên nhẫn và sáng tạo.

Thách thức và tầm nhìn

Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đặt ra nhiều thách thức: cân bằng giữa bảo tồn và thương mại, giữa mở rộng và bảo mật tri thức cộng đồng. Nếu công nghệ được sử dụng thiếu định hướng, di sản có thể bị bóp méo hoặc chiếm dụng. Vì thế, điều cốt lõi là quyền làm chủ nội dung và tri thức phải thuộc về cộng đồng bản địa.

KisStartup và các đối tác trong IDAP hướng tới mô hình phát triển văn hóa bền vững, nơi công nghệ chỉ đóng vai trò hỗ trợ – giúp cộng đồng tự kể chuyện, tự lan tỏa và tự tạo giá trị.

Hành trình kế tiếp

Từ những lớp học nhỏ về quay phim, dựng clip ở Sơn La, đến những sản phẩm du lịch văn hóa ở Lào Cai, chuyển đổi số đang thắp lại ngọn lửa sáng tạo trong mỗi cộng đồng. Khi công nghệ trở thành công cụ của văn hóa – chứ không thay thế nó – chúng ta sẽ thấy một tương lai nơi bản sắc dân tộc không bị mất đi, mà được tái sinh trong thế giới số.

“Chuyển đổi số không làm mờ đi truyền thống – nó làm cho truyền thống cất tiếng nói mới.”

Và chính những người trẻ, những nghệ nhân, những người thầy, những doanh nghiệp nhỏ nơi miền núi… đang cùng KisStartup viết tiếp câu chuyện ấy – hành trình làm cho văn hóa sống động hơn, lan tỏa hơn và có giá trị hơn trong kỷ nguyên số.

© Bản quyền thuộc về KisStartup. Nội dung được phát triển trong khuôn khổ dự án IDAP- Tăng cường hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm. Mọi hình thức sao chép, trích dẫn hoặc sử dụng lại cần ghi rõ nguồn KisStartup/IDAP
 

Tác giả: 
Nguyễn Đặng Tuấn Minh

Đại học và doanh nghiệp cùng kiến tạo hệ sinh thái chuyển đổi số: Bài học từ Lào Cai và Sơn La

Sau một năm triển khai dự án IDAP tại Phân viện Đại học Thái Nguyên tại Lào Cai, những thay đổi bước đầu đã cho thấy một mô hình thí điểm giàu tiềm năng: sinh viên được đưa trực tiếp vào doanh nghiệp, hỗ trợ từ những việc rất nhỏ như nhận thức tầm quan trọng của thiết bị số, hướng dẫn sử dụng phần mềm, thu thập dữ liệu cơ bản. Qua quá trình này, cả doanh nghiệp và sinh viên đều trưởng thành: doanh nghiệp dần vượt qua tâm lý e ngại công nghệ, còn sinh viên có cơ hội rèn luyện kỹ năng thực tế trong môi trường kinh doanh địa phương.
Điểm nổi bật của mô hình là sự thay đổi ngay trong chính nhà trường. Phân viện đã tham khảo ý kiến từ IDAP để xây dựng chương trình đào tạo Cử nhân Kinh tế số, bắt đầu tuyển sinh từ năm 2025. Đồng thời, nội dung chuyển đổi số sẽ được đưa vào tất cả các môn học, từ quản trị, tài chính đến marketing, tạo ra một cách tiếp cận toàn diện thay vì chỉ gói gọn trong vài học phần riêng lẻ. Điều này cho thấy nhà trường không chỉ phản ứng với xu hướng mà đã thực sự nội hóa chuyển đổi số như một năng lực nền tảng cho mọi ngành nghề.
Bài học rút ra sau một năm triển khai có thể tóm lại ở ba điểm chính. Thứ nhất, bắt đầu từ những bước nhỏ là cách tiếp cận phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở vùng cao. Khi sinh viên giúp một hộ kinh doanh quen với việc sử dụng phần mềm quản lý bán hàng hay biết cách lưu trữ dữ liệu khách hàng, đó chính là viên gạch đầu tiên cho hành trình số hóa dài hơi. Thứ hai, gắn đào tạo với thực tiễn mang lại tác động kép: sinh viên học từ thực tế còn doanh nghiệp được hưởng lợi từ sức trẻ và kỹ năng số. Thứ ba, thay đổi đến từ sự đồng hành hệ thống: có IDAP điều phối, có nhà trường đổi mới chương trình, có sinh viên tham gia và có doanh nghiệp hưởng ứng.
Từ Lào Cai nhìn sang Sơn La, một sáng kiến tương tự đang hình thành: Sàn Nhân lực số Sơn La do thầy Nguyễn Tiến Dũng (Đại học Tây Bắc) khởi xướng. Điểm độc đáo ở đây là nhà trường không chỉ đào tạo rồi “đẩy” sinh viên ra thị trường, mà còn trực tiếp làm cầu nối giữa sinh viên và doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh hay hợp tác xã có thể tìm được nhân lực số linh hoạt, giỏi công nghệ cho những công việc cụ thể như quản trị fanpage, thiết kế hình ảnh, truyền thông trực tuyến hay quản lý Google Maps. Sinh viên vừa kiếm thêm thu nhập, vừa tích lũy kinh nghiệm thực tế, lại được giảng viên đồng hành để đảm bảo chất lượng.
Cả hai mô hình đều cho thấy tiềm năng của đại học Việt Nam trong việc hỗ trợ doanh nghiệp địa phương chuyển đổi số. Vấn đề không nằm ở những giải pháp công nghệ lớn, mà ở cách trường đại học tạo ra cơ chế đưa sinh viên – nhân lực số trẻ – đến gần hơn với doanh nghiệp. Khi điều này được hệ thống hóa thành chương trình đào tạo, trung tâm hỗ trợ hay sàn kết nối nhân lực, lợi ích mang lại không chỉ cho sinh viên và doanh nghiệp mà còn góp phần định hình một hệ sinh thái số ngay tại địa phương.
Đối với các trường đại học khác đang tìm hướng đi, bài học từ Lào Cai và Sơn La gợi mở một con đường rõ ràng: hãy coi chuyển đổi số không chỉ là môn học, mà là một tiến trình sống động kết nối giảng đường với cộng đồng. Mỗi doanh nghiệp địa phương là một “phòng thí nghiệm thực tiễn”, mỗi sinh viên là một “tác nhân chuyển đổi số nhỏ” và mỗi nhà trường là trung tâm điều phối tri thức. Nếu làm được điều này, đại học không chỉ cung cấp bằng cấp mà còn kiến tạo được giá trị thực sự cho nền kinh tế số Việt Nam.

© Bản quyền thuộc về KisStartup. Nội dung được phát triển trong khuôn khổ dự án IDAP- Tăng cường hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm. Mọi hình thức sao chép, trích dẫn hoặc sử dụng lại cần ghi rõ nguồn KisStartup/IDAP

Tác giả: 
Nguyễn Đặng Tuấn Minh

Khởi nghiệp sau 40: Cơ hội và Thách thức

Khởi nghiệp sau 40: Khi trải nghiệm trở thành tài sản chiến lược

Ở tuổi 40, nhiều người chọn ổn định. Nhưng cũng có không ít người chọn khởi đầu — bắt đầu một hành trình mới mang tên “khởi nghiệp”. Thực tế cho thấy, khởi nghiệp sau 40 không hề muộn. Trái lại, đây có thể là thời điểm lý tưởng để khởi sự một dự án kinh doanh với đầy đủ nội lực: kinh nghiệm sống, vốn tích lũy và sự chín chắn trong ra quyết định.

Khi tuổi 40 trở thành lợi thế cạnh tranh

Các nghiên cứu quốc tế gần đây cho thấy, 59% nhà sáng lập startup toàn cầu hiện nay ở độ tuổi từ 40 trở lên, và độ tuổi trung bình của một nhà sáng lập startup thành công là 45 tuổi. Đặc biệt, người 50 tuổi có khả năng thành công cao gấp 2,2–2,8 lần, và người 60 tuổi có khả năng cao gấp 3 lần so với nhà sáng lập 30 tuổi (Harvard Business Review, 2018; Startup Magazine, 2024).

Vì sao lại như vậy? Bởi ở độ tuổi này, người khởi nghiệp đã tích lũy được:

  • Trải nghiệm nghề nghiệp giúp họ hiểu rõ thị trường, khách hàng và quy luật vận hành của doanh nghiệp.
  • Kỹ năng quản lý rủi ro và ra quyết định dựa trên dữ liệu thực tế thay vì cảm tính.
  • Mạng lưới quan hệ chuyên nghiệp — từ đồng nghiệp cũ, đối tác, khách hàng đến cố vấn — tạo nền tảng vững chắc cho việc gọi vốn, mở rộng kinh doanh và xây dựng niềm tin.
  • Tài chính cá nhân ổn định hơn, giúp họ giảm áp lực và có khả năng tự đầu tư cho giai đoạn đầu của startup.

Những thách thức thực tế và “bài kiểm tra” về công nghệ

Tuy nhiên, hành trình khởi nghiệp sau 40 cũng không thiếu thử thách. Người khởi nghiệp ở độ tuổi này thường gặp khó khăn trong tiếp cận công nghệ số, tự động hóa quy trình và quản lý tài chính bằng công cụ số. Khi phần lớn hoạt động kinh doanh ngày nay diễn ra trực tuyến, việc chậm thích ứng với công nghệ có thể khiến mô hình kinh doanh khó mở rộng hoặc kém cạnh tranh.

Ngoài ra, các nghiên cứu cũng cho thấy giai đoạn rủi ro nhất của startup không phải năm đầu tiên, mà là năm thứ 2 đến thứ 5 — khi 70% startup thất bại do thiếu kiểm soát dòng tiền, mất cân đối giữa tăng trưởng và chi phí (Equidam, 2023). Đặc biệt, 82% startup thất bại vì quản lý dòng tiền kém hiệu quả (Brooks-Keret, 2024). Với những người khởi nghiệp sau 40, rủi ro này càng lớn vì họ thường tự tài trợ bằng tiền tiết kiệm, quỹ hưu trí hoặc khoản bồi thường nghỉ việc — thay vì vốn đầu tư mạo hiểm, vốn thường có độ linh hoạt cao hơn.

Quản lý tài chính – chiếc la bàn của startup tuổi 40

Để tồn tại và phát triển bền vững, quản lý tài chính thông minh và kỷ luật là chìa khóa. Chuyên gia Trịnh Phan Lan khuyến nghị người khởi nghiệp ở độ tuổi này cần:

  • Hình thành tư duy đúng về tài chính, tiết kiệm, phòng ngừa rủi ro
  • Sử dụng nền tảng công cụ để theo dõi tài chính cá nhân, và công cụ để giám sát tài chính doanh nghiệp, tách bạch được tài chính cá nhân và tài chính doanh nghiệp, sử dụng (cloud-based accounting) để theo dõi dòng tiền theo thời gian thực.
  • Ứng dụng công cụ mô phỏng tài chính và dự báo rủi ro giúp đánh giá kịch bản kinh doanh khác nhau.
  • Xây dựng báo cáo dòng tiền và dự báo thu – chi chi tiết để chủ động ứng phó với khủng hoảng.
  • Thiết lập hệ thống báo cáo cho nhà đầu tư hoặc cố vấn để duy trì tính minh bạch và củng cố niềm tin.

Nói cách khác, tài chính không chỉ là con số – đó là hệ thống cảnh báo sớm cho những quyết định chiến lược. Khi có tư duy quản trị rủi ro tốt, startup của người sáng lập 40+ có khả năng hoạt động ổn định như doanh nghiệp truyền thống sau 10 năm (StartupRegions, 2020).

Một vài con số đáng chú ý

 

 

 

 

 

“NEXA” – Hành trang mới cho người khởi nghiệp sau 40

Trong bối cảnh đó, sự kiện “Quản lý tài chính cho người khởi nghiệp sau 40” do nền tảng học tập NEXA tổ chức sẽ là cơ hội để những ai đang bắt đầu hành trình khởi nghiệp ở độ tuổi này hiểu rõ rủi ro, nhận diện cơ hội và được trang bị công cụ phù hợp.

  • NEXA cung cấp các khóa học ngắn hạn, dễ áp dụng về:
  • Quản trị tài chính doanh nghiệp nhỏ
  • Đổi mới sáng tạo và thiết kế mô hình kinh doanh
  • Ứng dụng công nghệ số trong quản lý
  • Kỹ năng tự học và ra quyết định trong kỷ nguyên số

Đây không chỉ là nơi để học kiến thức, mà là bệ phóng cho sự tự tin và tự chủ tài chính – giúp người khởi nghiệp sau 40 bước vào hành trình mới với tâm thế vững vàng và chiến lược rõ ràng.

Khởi nghiệp sau 40 không phải là hành trình “muộn màng” — mà là hành trình thứ hai của những người đã đi qua trải nghiệm, đủ từng trải để không ảo tưởng, đủ kiên định để theo đuổi, và đủ bản lĩnh để thay đổi. Khi trải nghiệm trở thành tài sản, kỷ luật tài chính trở thành kim chỉ nam, người khởi nghiệp sau 40 hoàn toàn có thể biến “điểm rơi của tuổi tác” thành điểm khởi đầu của thành công.

Bài viết được thực hiện dựa trên dữ liệu và nghiên cứu từ Harvard Business Review (2018), Startup Magazine (2024), Equidam (2023), và Brooks-Keret (2024), cùng các nguồn tham khảo quốc tế khác.

© Bản quyền thuộc về KisStartup. Mọi hình thức sao chép, trích dẫn hoặc sử dụng lại cần ghi rõ nguồn KisStartup.

Tác giả: 
KisStartup

6 Bước chuyển đổi số của doanh nghiệp - Trường đại học hỗ trợ như thế nào?

Chuyển đổi số (CĐS) đang là yêu cầu sống còn đối với doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là SMEs. Tuy nhiên, theo nhiều khảo sát gần đây, quá trình này đối mặt với hàng loạt khó khăn: chi phí đầu tư cao, thiếu nhân lực số, hạn chế về hạ tầng công nghệ, e ngại thay đổi và thiếu chiến lược rõ ràng. Chỉ 7,6% doanh nghiệp có kế hoạch chuyển đổi số bài bản, trong khi 48,8% thử nghiệm một vài giải pháp nhưng không duy trì lâu dài (Báo cáo thường niên CĐS DN, 2022) .
Trong bối cảnh đó, trường đại học – với vai trò vừa đào tạo, vừa nghiên cứu, vừa kết nối tri thức – có tiềm năng rất lớn để trở thành đối tác chiến lược của doanh nghiệp trong CĐS. Để phù hợp cho mục đích tham khảo của những trường đại học mong muốn tham gia sâu vào khía cạnh chuyển đổi số của doanh nghiệp, đồng thời phát huy được thế mạnh của mình, KisStartup phân tích chi tiết theo khung 6 bước CĐS (Hồ Tú Bảo) tương ứng với từng giai đoạn chuyển đổi số của doanh nghiệp những hoạt động/chương trình mà nhà trường có thể thực hiện từ đó thể hiện vai trò trung tâm chuyển giao tri thức của mình trong hệ sinh thái chuyển đổi số. 


Nhận thức và đổi mới tư duy

  • Nhu cầu doanh nghiệp: Phần lớn SMEs chưa hiểu rõ CĐS là gì, lợi ích thực tế ra sao, hoặc nghĩ rằng đây chỉ là “mua phần mềm mới”. Rào cản lớn nhất nằm ở tư duy quản trị và sự e ngại thay đổi. Theo khảo sát toàn quốc 2025, 69% doanh nghiệp mới chỉ dừng ở mức sử dụng email hoặc phần mềm kế toán, chưa chạm đến các giải pháp chiến lược hơn (Bộ KH&CN, 2025) .
  • Trường đại học có thể làm gì: Các trường có thể tổ chức hội thảo khai mở tư duy, cung cấp báo cáo nghiên cứu về xu hướng công nghệ, hoặc phát triển công cụ Digital Maturity Assessment để SMEs tự đánh giá mức độ sẵn sàng. Đây là mô hình đã phổ biến ở châu Âu, và hoàn toàn khả thi tại Việt Nam. Với uy tín học thuật, trường đại học có lợi thế thuyết phục lãnh đạo doanh nghiệp vốn thường thiếu niềm tin với các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân.

Xác định lộ trình chuyển đổi

  • Nhu cầu doanh nghiệp: SMEs thường thiếu chiến lược và kế hoạch rõ ràng. Nhiều nơi triển khai dở dang rồi bỏ, dẫn đến lãng phí. Theo Bộ KH&ĐT (2023–2024), doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đặc biệt dễ gặp khó vì thiếu vốn, nhân lực và kỹ thuật .
  • Trường đại học có thể làm gì: Các khoa kinh tế, CNTT hoặc quản trị có thể phát triển khung đánh giá mức sẵn sàng số, tư vấn xây dựng lộ trình 6 tháng – 3 năm, phù hợp quy mô từng doanh nghiệp. Sinh viên năm cuối có thể tham gia như “digital consultants tập sự”, vừa thực hành vừa hỗ trợ doanh nghiệp. Mô hình này đã được University of Vaasa (Phần Lan) áp dụng thành công với SMEs địa phương, mang lại lợi ích hai chiều.

Xây dựng năng lực số

  • Nhu cầu doanh nghiệp: Thiếu nhân lực chuyên môn là rào cản lớn nhất. Cục Phát triển Doanh nghiệp (2023) xác nhận đa số SMEs chưa có nhân sự đủ trình độ công nghệ để triển khai hiệu quả . Ngoài ra, chi phí thuê chuyên gia ngoài thường vượt khả năng tài chính.
  • Trường đại học có thể làm gì: Thiết kế các khóa đào tạo ngắn hạn, thực hành trên chính dữ liệu và quy trình của doanh nghiệp. Ví dụ, đào tạo chủ doanh nghiệp về phân tích dữ liệu cơ bản, nhân viên marketing về quản lý chiến dịch số, hay kế toán về bảo mật dữ liệu. IE University (Tây Ban Nha) cùng Banco Santander đã triển khai chương trình “Digitaliza tu negocio” cho hàng nghìn SMEs, tập trung vào kỹ năng ứng dụng ngay. Trường đại học Việt Nam có thể học hỏi mô hình này và triển khai dưới dạng chứng chỉ ngắn hạn, kết hợp đào tạo từ xa để mở rộng quy mô.

Xác định công nghệ chính

  • Nhu cầu doanh nghiệp: Giữa hàng loạt giải pháp ERP, CRM, AI, IoT, nhiều SMEs lúng túng trong lựa chọn. Sai lầm ở bước này khiến doanh nghiệp mất chi phí mà không thu được hiệu quả. Bên cạnh đó, hạ tầng công nghệ của nhiều SMEs vẫn yếu, thiếu thiết bị, phần mềm và hệ thống bảo mật .
  • Trường đại học có thể làm gì: Các trường kỹ thuật, CNTT có thể xây dựng phòng thí nghiệm công nghệ số để doanh nghiệp trải nghiệm trước khi mua. Ngoài ra, trường có thể tổ chức hội thảo “technology showcase” với sự tham gia của nhiều nhà cung cấp, đóng vai trò trung gian tư vấn độc lập. Tại Anh, Hartree Centre phối hợp cùng các trường đại học cho phép SMEs thử nghiệm AI và siêu máy tính trước khi đầu tư – một mô hình đáng để Việt Nam tham khảo.

Triển khai thực thi

  • Nhu cầu doanh nghiệp: Khi bắt đầu triển khai, khó khăn không chỉ ở công nghệ mà còn ở quản lý thay đổi: dọn dữ liệu, điều chỉnh quy trình, vượt qua sự phản kháng của nhân viên. SMEs thường thiếu mentor để kèm cặp xuyên suốt.
  • Trường đại học có thể làm gì: Các trường có thể cử nhóm nghiên cứu, giảng viên và sinh viên đồng hành trong giai đoạn thử nghiệm, đóng vai “PMO nhẹ”. Ngoài ra, có thể xây dựng mô hình hợp tác “sống chung” – nơi doanh nghiệp và trường chia sẻ chi phí, cùng nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới. Ở Đức, chương trình Mittelstand 4.0 đã chứng minh hiệu quả của việc trường và viện nghiên cứu tổ chức workshop, hướng dẫn SMEs áp dụng agile, design thinking để giảm rủi ro triển khai.

Thay đổi mô hình và điều chỉnh tác nghiệp

  • Nhu cầu doanh nghiệp: Sau khi áp dụng công nghệ, SMEs phải thay đổi cả mô hình kinh doanh và cách vận hành. Đây là bước khó nhất, liên quan đến văn hóa doanh nghiệp và chiến lược dài hạn. Tuy nhiên, phần lớn SMEs Việt Nam chưa có kinh nghiệm đo lường dữ liệu phản hồi để điều chỉnh mô hình.
  • Trường đại học có thể làm gì: Đại học có thể nghiên cứu điển hình (case study) từ chính doanh nghiệp địa phương, tổ chức các buổi chia sẻ kinh nghiệm để các công ty học lẫn nhau. Ngoài ra, trường có thể hỗ trợ phân tích dữ liệu phản hồi khách hàng để doanh nghiệp điều chỉnh sản phẩm, kênh bán, hay chính sách giá. Utrecht University (Hà Lan) đã hợp tác với doanh nghiệp tư vấn để số hóa toàn diện mô hình quản trị và trải nghiệm người học – một minh chứng cho việc thay đổi mô hình phải dựa trên dữ liệu.

Các khảo sát trong nước cho thấy SMEs Việt Nam đang gặp khó khăn lớn: chi phí đầu tư cao, thiếu nhân lực chuyên môn, e ngại thay đổi, hạ tầng yếu và thiếu chiến lược rõ ràng . Trong bối cảnh đó, trường đại học có tiềm năng trở thành điểm tựa chiến lược: nơi đào tạo nguồn nhân lực số, cung cấp tri thức ứng dụng, kết nối doanh nghiệp với công nghệ và đồng hành trong suốt tiến trình CĐS.
Nếu biết khai thác thế mạnh, trường đại học Việt Nam không chỉ đào tạo sinh viên mà còn trở thành trung tâm hỗ trợ CĐS cho SMEs, đóng góp trực tiếp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế số quốc gia.

 

Bước chuyển đổi số (Hồ Tú Bảo) Nhu cầu doanh nghiệp Việt Nam (SMEs)
 
Trường đại học Việt Nam có thể làm gì
 
Ví dụ quốc tế
 
1. Nhận thức và đổi mới tư duy Chưa rõ CĐS là gì, lợi ích ra sao; 69% DN mới dừng ở mức email, kế toán cơ bản (Bộ KH&CN, 2025) Tổ chức hội thảo khai mở; xây dựng công cụ đánh giá mức sẵn sàng số; cung cấp báo cáo nghiên cứu xu hướng Các trường châu Âu phát triển Digital Maturity Assessment Tools cho SMEs
2. Xác định lộ trình chuyển đổi Thiếu chiến lược rõ ràng; chỉ 7,6% DN có kế hoạch bài bản; nhiều DN thử nghiệm rồi bỏ (Báo cáo thường niên CĐS, 2022) Phát triển khung đánh giá mức sẵn sàng số; tư vấn lộ trình 6 tháng – 3 năm; sinh viên tham gia như “digital consultants tập sự” University of Vaasa (Phần Lan) triển khai mô hình “ecosystem-based digitalization” cho SMEs
3. Xây dựng năng lực số Thiếu nhân lực công nghệ; chi phí đào tạo cao; nhân viên thiếu kỹ năng số (Cục PTDN, 2023) Thiết kế khóa đào tạo ngắn hạn, thực hành; mở chương trình “học trên dự án thật”; xây dựng ngân hàng sinh viên hỗ trợ SMEs IE University (Tây Ban Nha) & Banco Santander: chương trình Digitaliza tu negocio đào tạo kỹ năng số cho 3.000 SMEs
4. Xác định công nghệ chính Khó chọn giải pháp giữa ERP, CRM, AI, IoT; hạ tầng số yếu; lo ngại chi phí cao Xây dựng phòng thí nghiệm công nghệ; tổ chức hội thảo “technology showcase”; đóng vai trò trung gian kết nối DN với nhà cung cấp Hartree Centre (Anh) hợp tác đại học cho SMEs thử nghiệm AI, siêu máy tính trước khi đầu tư
5. Triển khai thực thi Thiếu mentor; gặp rủi ro khi thay đổi quy trình; nhân viên kháng cự; dữ liệu lộn xộn Cử nhóm giảng viên – sinh viên hỗ trợ thử nghiệm; mô hình hợp tác “sống chung” cùng doanh nghiệp; cung cấp mentor/coach quản trị thay đổi Mittelstand 4.0 (Đức): workshop, huấn luyện SMEs áp dụng agile, design thinking
6. Thay đổi mô hình & điều chỉnh tác nghiệp Khó thay đổi văn hóa và mô hình kinh doanh; thiếu kinh nghiệm đọc dữ liệu để điều chỉnh Nghiên cứu điển hình từ DN địa phương; hỗ trợ phân tích dữ liệu phản hồi; duy trì mạng lưới đổi mới sáng tạo gắn kết DN – giảng viên – sinh viên Utrecht University (Hà Lan): hợp tác tư vấn số hóa quản trị & trải nghiệm người học toàn diện

 

© Bản quyền thuộc về KisStartup. Nội dung được phát triển trong khuôn khổ dự án IDAP- Tăng cường hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm. Mọi hình thức sao chép, trích dẫn hoặc sử dụng lại cần ghi rõ nguồn KisStartup/IDAP
https://qnu.edu.vn/vi/hoi-nghi-hoi-thao/bai-noi-chuyen-dai-chung-chuyen-...

Tác giả: 
Nguyễn Đặng Tuấn Minh

Mô hình R&D thuê ngoài cho SMEs: Nền tảng thương mại hóa kết quả nghiên cứu cho công nghệ tạo tác động và gia tăng giá trị sản phẩm cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Trong hành trình thực hiện dự án IDAP – Tăng cường hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm tại Lào Cai và Sơn La, KisStartup đã tiên phong đưa vào triển khai thí điểm mô hình R&D thuê ngoài kết hợp với các sáng kiến chuyển đổi kép (số hóa và xanh hóa), đặt nền móng cho một cách tiếp cận mới trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Với tầm nhìn dài hạn, KisStartup đã thiết kế và vận hành một không gian thử nghiệm thực tế – nơi những công nghệ tạo tác động tích cực cho môi trường và xã hội có thể tìm thấy cơ hội hiện thực hóa và tăng trưởng, thông qua kết nối với các đơn vị thực hành sản xuất ở địa phương.

Trong bối cảnh phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã không có đủ nguồn lực để đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) nội bộ, mô hình R&D thuê ngoài do KisStartup làm trung gian đã trở thành một giải pháp linh hoạt, tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đảm bảo chất lượng đổi mới. Thay vì phải tự tìm kiếm công nghệ, phân tích thị trường, thử nghiệm sản xuất và đầu tư thiết bị, các doanh nghiệp có thể tiếp cận trực tiếp với các công nghệ sẵn sàng chuyển giao từ các nhà khoa học, startup công nghệ, chuyên gia kỹ thuật mà KisStartup đã tuyển chọn và đồng hành. Quá trình thử nghiệm không chỉ là quá trình “dùng thử” công nghệ, mà là một hoạt động ươm tạo thực thụ – từ nhận diện vấn đề, thí điểm giải pháp, điều chỉnh mô hình, đến bước đầu thương mại hóa.

Thông qua nền tảng kết nối giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và thị trường, KisStartup đóng vai trò như một tác nhân thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, giúp rút ngắn khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và đời sống sản xuất thực tiễn. Các công nghệ được lựa chọn để triển khai thí điểm không chỉ có tính đổi mới, mà quan trọng hơn, đều hướng đến giá trị tác động: xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp, tạo ra sản phẩm thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng, hoặc hỗ trợ sản xuất tuần hoàn. Từ công nghệ sấy dẻo giúp mận tránh tình trạng rớt giá do mất mùa, công nghệ trà từ lá tre già vốn bị bỏ đi, đến công nghệ sản xuất nước rửa hữu cơ từ trái cây thừa tại vườn, tất cả đều là minh chứng sống động cho giá trị cộng hưởng giữa chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, trong một mô hình chuyển giao công nghệ khả thi cho địa phương.

Điều đặc biệt là IDAP đã trở thành một địa chỉ thử nghiệm công nghệ tin cậy, nơi các nhà sáng chế và tổ chức công nghệ có thể thử nghiệm ý tưởng, tinh chỉnh quy trình và bước đầu tiếp cận thị trường thông qua mạng lưới doanh nghiệp địa phương sẵn sàng tham gia đổi mới. Việc KisStartup thiết kế các chuỗi đào tạo, tư vấn kỹ thuật và hỗ trợ kiểm nghiệm sản phẩm đã giúp tạo dựng niềm tin trong quá trình thương mại hóa, một khâu vốn luôn bị đánh giá là điểm nghẽn trong chuyển giao công nghệ tại Việt Nam.

Mô hình này đồng thời khẳng định vai trò của KisStartup như một nền tảng thương mại hóa hiệu quả, có khả năng điều phối đa tác nhân – từ giới khoa học, nhà sáng chế, doanh nghiệp địa phương đến các tổ chức hỗ trợ công nghệ trong và ngoài nước. Trong tiến trình đó, KisStartup không chỉ đóng vai trò hỗ trợ kỹ thuật, mà còn là người bạn đồng hành chiến lược, giúp các công nghệ tạo tác động bước qua giai đoạn tiền thương mại hóa và tiến vào thị trường thực tiễn. Nhà khoa học Trần Chí Thành, Công ty TNHH Sắc Mộc Tinh, người thực hiện chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nhận định: “Một điểm quan trọng là mô hình chuyển giao công nghệ không đòi hỏi máy móc thiết bị hiện đại, chi phí đầu tư thấp, và quy trình sản xuất đơn giản – phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực lao động phổ thông ở các địa phương. Điều này giúp giảm thiểu rào cản tiếp cận công nghệ và thúc đẩy nhanh quá trình thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Tôi cho rằng đây là một mô hình hợp tác hiệu quả, có thể nhân rộng trong các sáng kiến chuyển giao công nghệ khác, đặc biệt trong bối cảnh cần xây dựng lòng tin và thúc đẩy năng lực tiếp nhận đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Việc KisStartup đóng vai trò cầu nối và đồng hành cùng doanh nghiệp trong giai đoạn R&D và tiền thương mại hóa là vô cùng quan trọng và đáng khuyến khích”.

Thành công bước đầu của các sáng kiến chuyển đổi kép tại Lào Cai và Sơn La, cùng với mô hình R&D thuê ngoài, đã mở ra một hướng đi chiến lược cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa: không cần sở hữu công nghệ, nhưng vẫn có thể đổi mới và phát triển bền vững thông qua hệ sinh thái ươm tạo công nghệ và thương mại hóa mà KisStartup xây dựng. Đây chính là giá trị cốt lõi mà dự án IDAP để lại – không chỉ là tác động tại chỗ, mà là mô hình có thể nhân rộng và điều chỉnh phù hợp với các địa phương khác trên hành trình chuyển đổi vì cộng đồng và vì môi trường.
----------------------------------
VỀ DỰ ÁN IDAP
IDAP (Inclusive Digital Acceleration Program) – Tăng cường hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm cho DNNVV tập trung vào nông nghiệp và du lịch tại hai tỉnh tỉnh Lào Cai và Sơn La là dự án được tài trợ bởi GREAT (Dự án Thúc đẩy Bình đẳng Giới thông qua Nâng cao Hiệu quả Kinh tế Sản xuất Nông nghiệp và Phát triển Du lịch) do công ty Cổ phần KisStartup là đối tác thực hiện chính trong thời gian từ 2024 đến 2027.

Dự án “Thúc đẩy Bình đẳng giới thông qua Nâng cao Hiệu quả Kinh tế Sản xuất Nông nghiệp và Phát triển Du lịch tại hai tỉnh Lào Cai và Sơn La” (GREAT) là một sáng kiến do chính phủ Australia tài trợ và được quản lý bởi Cowater International. Giai đoạn một của GREAT được thực hiện từ năm 2017-2022 và giai đoạn hai (GREAT 2) sẽ được thực hiện từ năm 2024-2027 với tổng vốn đầu tư từ Chính phủ Úc là 67,4 triệu đô la Úc.
----------------------------------
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ
Fanpage: https://www.facebook.com/kisstartup
Website: https://www.kisstartup.com/
Email: hello@kisstartup.com
Liên hệ:(+84) 0396292442 (Ms. Xuan)

Tổng kết giai đoạn thử nghiệm 03 SÁNG KIẾN CHUYỂN ĐỔI KÉP

Trong khuôn khổ Dự án IDAP – Tăng cường hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm tại Lào Cai và Sơn La, KisStartup đã tiên phong triển khai mô hình Chuyển đổi kép – Số hóa và anh hóa, kết hợp giữa các yếu tố công nghệ số và giải pháp bảo vệ môi trường, nhằm tạo ra giá trị bền vững cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), hợp tác xã và hộ kinh doanh địa phương.


Ba sáng kiến thí điểm nổi bật đã được triển khai gồm:

Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức và lan tỏa công nghệ chuyển đổi kép:
Với sự đồng hành của các đối tác quốc tế và trong nước như BTR Global, Sắc Mộc Tinh, Alterno, các nhà khoa học như TS. Trần Chí Thành và chuyên gia TS. Trần Văn Sỹ, KisStartup đã phối hợp tổ chức các hội thảo chuyên đề về chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Những nội dung chuyên sâu về công nghệ xử lý phế phẩm nông nghiệp, năng lượng tái tạo, tuần hoàn tài nguyên, công nghệ sấy mận, muối kiềm hay nước rửa hữu cơ đã được giới thiệu dưới dạng dễ tiếp cận cho người dân, DNNVV và hợp tác xã địa phương.
Kết nối doanh nghiệp địa phương với đơn vị sở hữu công nghệ để thí điểm và đồng sáng tạo:
Một loạt các mô hình ứng dụng công nghệ đã được triển khai thành công như:

  • Măng Tân Xuân 269: Phát triển trà lá tre từ phế phẩm nông nghiệp.
  • Forest Homestay Bản Liền: Sản xuất trà khử chát từ lá già và túi hút mùi thảo dược.
  • HTX Nà Ka: Biến mận tươi thành mận sấy dẻo, giúp giảm thất thoát mùa vụ.
  • Cuội Organic – Hộ kinh doanh Thái Chinh: Sản xuất nước rửa chén hữu cơ từ hoa quả vườn nhà

Các sản phẩm này đều được phát triển cùng với nền tảng số, giúp lan tỏa câu chuyện sản phẩm, gia tăng doanh thu và tạo thêm việc làm tại địa phương.


NHỮNG GIÁ TRỊ NỔI BẬT CỦA MÔ HÌNH CHUYỂN ĐỔI KÉP & R&D THUÊ NGOÀI

Chuyển đổi số tạo nền tảng lan tỏa và thương mại hóa, chuyển đổi xanh tạo động lực đổi mới:
Việc đồng thời áp dụng hai hướng chuyển đổi này giúp doanh nghiệp không chỉ tối ưu hóa quy trình, mà còn xây dựng thương hiệu dựa trên các giá trị bền vững, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Thúc đẩy niềm tin và năng lực tiếp nhận công nghệ tại cộng đồng:
Các đối tượng thụ hưởng không chỉ tiếp cận công nghệ mà còn được đào tạo, thử nghiệm, nhận phản hồi thị trường và được hỗ trợ trong khâu đăng ký kiểm nghiệm và cấp phép. Điều này tạo ra một quy trình khép kín và gia tăng niềm tin từ cả phía cung lẫn phía cầu công nghệ.
Khả năng nhân rộng cao và phù hợp với điều kiện DNNVV:
Theo nhận xét của nhà khoa học Trần Chí Thành, mô hình mà KisStartup triển khai không đòi hỏi máy móc đắt tiền hay điều kiện kỹ thuật cao. Việc sử dụng nguồn lực địa phương, quy trình sản xuất đơn giản, đi kèm đào tạo và hỗ trợ chuyên sâu, giúp giảm đáng kể rào cản công nghệ – yếu tố vốn là một thách thức lớn đối với DNNVV.
Thành công bước đầu của mô hình chuyển đổi kép và R&D thuê ngoài đã mở ra hướng tiếp cận mới mẻ và hiệu quả trong việc xây dựng năng lực đổi mới sáng tạo cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các tỉnh miền núi. Việc thành lập các Tổ Chuyển đổi kép Lào Cai – Sơn La với sự tham gia tự nguyện của các doanh nghiệp, HTX tiên phong đang chứng minh sức sống và khả năng lan tỏa của sáng kiến này. KisStartup tin tưởng rằng mô hình này có thể tiếp tục mở rộng và nhân rộng trong các lĩnh vực khác như dược liệu, du lịch cộng đồng, sản phẩm OCOP… nhằm kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo xanh – số – bền vững tại các địa phương.
----------------------------------
VỀ DỰ ÁN IDAP
IDAP (Inclusive Digital Acceleration Program) – Tăng cường hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm cho DNNVV tập trung vào nông nghiệp và du lịch tại hai tỉnh tỉnh Lào Cai và Sơn La là dự án được tài trợ bởi GREAT (Dự án Thúc đẩy Bình đẳng Giới thông qua Nâng cao Hiệu quả Kinh tế Sản xuất Nông nghiệp và Phát triển Du lịch) do công ty Cổ phần KisStartup là đối tác thực hiện chính trong thời gian từ 2024 đến 2027.

Dự án “Thúc đẩy Bình đẳng giới thông qua Nâng cao Hiệu quả Kinh tế Sản xuất Nông nghiệp và Phát triển Du lịch tại hai tỉnh Lào Cai và Sơn La” (GREAT) là một sáng kiến do chính phủ Australia tài trợ và được quản lý bởi Cowater International. Giai đoạn một của GREAT được thực hiện từ năm 2017-2022 và giai đoạn hai (GREAT 2) sẽ được thực hiện từ năm 2024-2027 với tổng vốn đầu tư từ Chính phủ Úc là 67,4 triệu đô la Úc.
----------------------------------
Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ
Fanpage: https://www.facebook.com/kisstartup
Website: https://www.kisstartup.com/
Email: hello@kisstartup.com
Liên hệ:(+84) 0396292442 (Ms. Xuan)

Những kết nối đầu tiên đặt những viên gạch đầu tiên cho một hệ sinh thái bền vững

Sự kiện khởi động cho chương trình "Kết nối để chinh phục chuyển đổi số" ngày 14.7.2025 vừa khép lại, nhưng tạo ra một câu hỏi thú vị: Liệu chuyển đổi số có thật sự khác biệt khi được thực hiện bởi chính những người từng e ngại công nghệ? Câu trả lời nằm trong từng câu chuyện được chia sẻ, từng ánh mắt sáng lên khi nhận ra rằng mình có thể làm được.

Có thể là hình ảnh về 2 người và văn bản
Chị Mã Thị Luyến chủ cơ sở sản xuất giò chả Luyến Thọ đã chứng minh điều này. Từ người chưa quen gõ chữ có dấu, giờ đây chị tự tin thuê sinh viên thiết kế logo, tham gia lớp học sử dụng máy tính để tối ưu công việc. Quan trọng hơn, chị đã học được cách diễn đạt nhu cầu rõ ràng, chủ động chia sẻ ý tưởng thay vì thụ động chờ đợi. Chị tự mình vượt qua rào cản thiếu niềm tin vào người trẻ. “Mình phải tin những người sẽ đồng hành và giúp đỡ mình, cùng chia sẻ để đạt được thứ mình muốn”. Sự thay đổi về tư duy dẫn đến thay đổi về hành động. Chỉ trong thời gian ngắn chị đã tiếp cận rất nhanh và xử lý các vấn đề hiệu quả nhờ 

Có thể là hình ảnh về 1 người, tóc mái và văn bản
Câu chuyện của chị Lý Phương Hoa chủ tiệm massage Phương Hoa lại cho một góc nhìn khác về sử dụng dịch vụ ngay khi thấy người khác làm cho mình sẽ hiệu quả. Người đã tìm thấy cách để biến fanpage thành công cụ bán hàng đều đặn, tiết kiệm thời gian để tập trung phát triển sản phẩm đặc trưng của vùng Mường. Chị mạnh dạn thuê nhân sự ngay trong chương trình, ký hợp đồng, trả phí vì nhận thấy những hiệu quả rõ nét mà việc thuê người mang lại. Gần 1 năm qua, chị hài lòng vì sự hợp tác mang lại cho chị những kết quả ngoài mong đợi. Từ đó chị cũng thấy cần phải mạnh dạn đầu tư vào những phần mềm để dành thời gian cho những việc khác. Những thay đổi này không chỉ là câu chuyện cá nhân – mà là lời khẳng định rằng chuyển đổi số không bỏ ai lại phía sau, nếu họ thay đổi tư duy và hành động. Chủ động kết nối và làm việc với những người khác cũng là một bằng chứng cho thấy phụ nữ dân tộc thiểu số đang thay đổi từng ngày. Tinh thần chuyển đổi số bao trùm đã thể hiện rõ trong cách các doanh nghiệp chủ động tiếp cận các đơn vị cung cấp dịch vụ chuyển đổi số (CCDV), không còn bị động chờ đợi. Họ biết rõ mình muốn gì, cần gì và chủ động trong quá trình đưa ra quyết định. Hệ sinh thái CCDV cũng thể hiện rõ nét sự đa dạng. Học viện NESA UNI mang đến khóa đào tạo thiết kế chuyên sâu kèm học bổng ý nghĩa. FChat giới thiệu chatbot đa nền tảng giúp quản lý nội dung hiệu quả. ACman và Sapo cung cấp giải pháp quản lý bán hàng, hóa đơn điện tử. ezCloud tối ưu vận hành cho homestay và khách sạn nhỏ. Máy tính Thánh Gióng tập trung sản phẩm thân thiện môi trường, trong khi Sắc Mộc Tinh gia tăng giá trị cho nông sản. Các đơn vị CCDV quốc gia tăng 3 lần trong 1 năm qua minh chứng cho sức hút của thị trường, cho những cam kết mạnh mẽ mà họ mang đến cho doanh nghiệp và cũng thể hiện khát vọng lớn lên cùng các DNNVV tại các địa phương. 


Các CCDV địa phương tuy mới nhưng thể hiện lợi thế đặc biệt: sự am hiểu sâu sắc về văn hóa, ngôn ngữ và hành vi tiêu dùng vùng cao. Những dịch vụ thiết yếu như hướng dẫn sử dụng máy tính, thiết kế logo, tư vấn bán hàng online đang trở thành nền tảng thực tế giúp doanh nghiệp siêu nhỏ bước vào hành trình số hóa đúng với năng lực hiện tại.
Ngoài ra, trong sự kiện, dự án IDAP cũng chia sẻ về chính sách tài trợ dành cho các doanh nghiệp tại Lào Cai, Sơn La mong muốn sử dụng dịch nhằm gia tăng doanh thu và phát triển kinh doanh. Chính sách đã này tạo nên vòng tròn tích cực: doanh nghiệp được trải nghiệm thật, CCDV chứng minh năng lực thật và hệ sinh thái xây dựng trên nền tảng tin tưởng thật. Không còn có chuyện "dùng thử cho vui", mà là "dùng thật để đo lường thật". Mặt khác, qua chương trình dự án IDAP mong muốn mạng lưới CCDV địa phương dần chủ động, có năng lực, có pháp nhân, có khả năng tự vận hành sau khi dự án kết thúc. Sự hợp tác giữa các CCDV quốc gia và địa phương đang là hành động cụ thể. Khi CCDV địa phương học được cách làm việc chuyên nghiệp từ đối tác quốc gia, họ vừa nâng cao chất lượng dịch vụ vừa mở ra cơ hội phát triển lâu dài tại chính địa phương mình. Sự kiện đã thu hút tổng cộng 7 đơn vị cung cấp dịch vụ cấp quốc gia và hơn 18 đơn vị cung cấp dịch vụ địa phương cùng tham gia, thể hiện rõ tinh thần kết nối đa chiều và cam kết hành động vì chuyển đổi số thực chất.

Có thể là hình ảnh về 9 người và văn bản
Buổi khởi động đầu tiên đã kết thúc, nhưng hành trình kết nối vẫn tiếp diễn. Từng doanh nghiệp được hỗ trợ, từng nhà cung cấp dịch vụ được ghi nhận, chính là viên gạch đầu tiên cho hệ sinh thái thực sự bền vững. Nơi không ai đi một mình, mỗi thành công đều là nền móng cho sự lan tỏa tích cực. Dự án IDAP cam kết sẽ tiếp tục đồng hành, không phải để dẫn đường, mà để đảm bảo con đường đó đủ rộng cho tất cả cùng bước.
Hãy đồng hành cùng chúng tôi, cùng các đơn vị CCDV, cùng các doanh nghiệp tại Lào Cai - Sơn La để khám phá thêm những khía cạnh mới về chuyển đổi số. Bởi vì những thành công to lớn nhất luôn bắt đầu từ những kết nối chân thành.

----------------------------------

VỀ DỰ ÁN IDAP

IDAP (Inclusive Digital Acceleration Program) – Tăng cường hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm cho DNNVV tập trung vào nông nghiệp và du lịch tại hai tỉnh tỉnh Lào Cai và Sơn La là dự án được tài trợ bởi GREAT (Dự án Thúc đẩy Bình đẳng Giới thông qua Nâng cao Hiệu quả Kinh tế Sản xuất Nông nghiệp và Phát triển Du lịch) do công ty Cổ phần KisStartup là đối tác thực hiện chính trong thời gian từ 2024 đến 2027.

Dự án “Thúc đẩy Bình đẳng giới thông qua Nâng cao Hiệu quả Kinh tế Sản xuất Nông nghiệp và Phát triển Du lịch tại hai tỉnh Lào Cai và Sơn La” (GREAT) là một sáng kiến do chính phủ Australia tài trợ và được quản lý bởi Cowater International. Giai đoạn một của GREAT được thực hiện từ năm 2017-2022 và giai đoạn hai (GREAT 2) sẽ được thực hiện từ năm 2024-2027 với tổng vốn đầu tư từ Chính phủ Úc là 67,4 triệu đô la Úc.

----------------------------------

Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ

Gỡ Nút Thắt – Chuyển Đổi Số Tinh Gọn: Khi HTX trở thành trung tâm của hệ sinh thái số hóa tại Lào Cai

Ngày 08/05/2025, tại khách sạn Lào Cai Galaxy, sự kiện “Gỡ Nút Thắt – Chuyển Đổi Số Tinh Gọn cho HTX và Doanh nghiệp” đã diễn ra sôi nổi, quy tụ 58 hợp tác xã thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trên địa bàn tỉnh cùng với sự tham gia tích cực của 15 giảng viên và sinh viên đến từ Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Lào Cai. Sự kiện nằm trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm – IDAP” và là một ví dụ tiêu biểu cho cách thức thúc đẩy chuyển đổi số lấy HTX làm trung tâm, thông qua sự cộng hưởng của các bên trong hệ sinh thái: cơ sở giáo dục – doanh nghiệp cung cấp dịch vụ – tổ chức hỗ trợ phát triển và chính HTX.

Một trong những điểm nổi bật của chương trình là mô hình sắp xếp “ngồi xen kẽ” giữa sinh viên – giảng viên và chủ các HTX để cùng nhau thực hành theo phương pháp “cầm tay chỉ việc”. Không còn là những bài giảng chung chung hay khái niệm mơ hồ, các nội dung như sử dụng AI để định giá sản phẩm, lựa chọn phần mềm kế toán phù hợp hay nhận diện rủi ro pháp lý trong số hóa đã được cụ thể hóa bằng các công cụ trực tiếp, dễ hiểu và dễ áp dụng. Sự tương tác trực tiếp, sát thực giữa nhà trường và HTX không chỉ giúp người học cảm thấy gần gũi, dễ tiếp thu mà còn giúp sinh viên có cơ hội cọ xát với thực tiễn – điều mà giáo trình truyền thống khó có thể mang lại.

Chương trình không chỉ là một khóa đào tạo đơn thuần mà đã trở thành không gian kết nối ba chiều: giữa HTX với nhau, giữa HTX và giới học thuật, và đặc biệt là giữa HTX với các đơn vị cung cấp giải pháp chuyển đổi số. Đáng chú ý, sự tham gia của doanh nghiệp dịch vụ kế toán số ACMAN – đơn vị có kinh nghiệm triển khai công cụ số hóa cho doanh nghiệp nhỏ – đã mang đến những góc nhìn rõ nét về tiềm năng và cách thức triển khai thực tế. Đại diện ACMAN chia sẻ rằng họ nhận thấy thị trường tại Lào Cai vẫn còn rất nhiều dư địa phát triển và cam kết sẽ tiếp tục đồng hành cùng HTX trong hành trình tiết kiệm sức người – sức của thông qua công nghệ.

Phản hồi từ người tham dự là minh chứng rõ ràng cho sự thành công của phương pháp tiếp cận này. Nhiều người bày tỏ sự bất ngờ và hào hứng vì nội dung “không xa vời, gắn sát doanh nghiệp, học đến đâu hiểu đến đó và làm được luôn”. Không khí tích cực đến mức cuối chương trình, không ít người vẫn nán lại để trao đổi thêm, phản ánh sự khát khao thực sự của HTX trong việc tìm kiếm hướng đi phù hợp cho tương lai.

Sự kiện cũng là lát cắt cho thấy một điều quan trọng: để chuyển đổi số không còn là khẩu hiệu, cần có sự tham gia nghiêm túc của cả hệ sinh thái. Chính quyền địa phương thông qua Liên minh HTX tỉnh Lào Cai đã đóng vai trò cầu nối, tập hợp lực lượng và tạo điều kiện triển khai. Nhà trường cung cấp tri thức và nhân lực trẻ nhiệt huyết. Các doanh nghiệp công nghệ mang đến công cụ và giải pháp thực tiễn. Và trên hết, HTX – những người trực tiếp sản xuất và vận hành – đã trở thành trung tâm và chủ thể thực hiện, chứ không còn là đối tượng bị “áp” các giải pháp từ bên ngoài.

Ngay sau sự kiện, hiệu ứng lan tỏa đã trở nên rõ rệt. Hơn 40 HTX khác trên địa bàn tỉnh đang tiếp tục tham gia chương trình “Gỡ Nút Thắt” trong thời gian tới. Từ việc làm quen với những công cụ tưởng chừng phức tạp như ChatGPT hay Grok, người tham dự dần nhận ra rằng chuyển đổi số không còn là thứ gì đó xa xỉ, mà hoàn toàn khả thi nếu có lộ trình đúng và được hỗ trợ đúng cách.

Chúng tôi tự hào vì đã góp phần nhỏ trong hành trình giúp các HTX tại Lào Cai “gỡ nút thắt” một cách tinh gọn, thực tiễn và hiệu quả. Thành công của sự kiện lần này là lời nhắc nhở rằng: chỉ khi toàn bộ hệ sinh thái cùng đồng lòng, chuyển đổi số mới thực sự có cơ hội bén rễ và phát triển bền vững từ chính nhu cầu của doanh nghiệp.

----------------------------------

VỀ DỰ ÁN IDAP

IDAP (Inclusive Digital Acceleration Program) – Tăng cường hệ sinh thái chuyển đổi số bao trùm cho DNNVV tập trung vào nông nghiệp và du lịch tại hai tỉnh tỉnh Lào Cai và Sơn La là dự án được tài trợ bởi GREAT (Dự án Thúc đẩy Bình đẳng Giới thông qua Nâng cao Hiệu quả Kinh tế Sản xuất Nông nghiệp và Phát triển Du lịch) do công ty Cổ phần KisStartup là đối tác thực hiện chính trong thời gian từ 2024 đến 2027.

Dự án “Thúc đẩy Bình đẳng giới thông qua Nâng cao Hiệu quả Kinh tế Sản xuất Nông nghiệp và Phát triển Du lịch tại hai tỉnh Lào Cai và Sơn La” (GREAT) là một sáng kiến do chính phủ Australia tài trợ và được quản lý bởi Cowater International. Giai đoạn một của GREAT được thực hiện từ năm 2017-2022 và giai đoạn hai (GREAT 2) sẽ được thực hiện từ năm 2024-2027 với tổng vốn đầu tư từ Chính phủ Úc là 67,4 triệu đô la Úc.

----------------------------------

Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ